Chủ Nhật, 31 tháng 10, 2010

NHỮNG HẠT SẠN

Mấy hôm trước ngồi ở quán cà phê, tình cờ nghe được mẩu đối thoại:

- Ông đã bao giờ được xem một đám rước rồng mà thấy đuôi mà không thấy đầu bao giờ chưa?

- Ông nói đùa!

- không đùa tý nào đâu! Ông có xem cuộc diễu hành nhân kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long không?

- Có, mà sao?

- Thì đó! Đám rước một nghìn năm Thăng Long mà chỉ thấy ảnh Bác Hồ mà không thấy tranh vẽ hay tượng của Lý Thái Tổ…

Còn nhờ cảm giác của mình lúc đó là khó chịu, mình nghĩ: “Vẽ chuyện…”. Nghĩ là nhĩ vậy, nhưng không hiểu sao mẩu đối thoại kia vẫn cứ ám ảnh mình mãi, làm mình cứ phải nghĩ về nó. Mà càng nghĩ càng thấy câu nói: “Đám rước rồng chỉ thấy đuôi không thấy đầu…” không phải là không có lý của nó. Bởi vì lấy hình ảnh một ngìn năm tượng trưng cho chiều dài một con rồng thì triều Lý (mà công đầu là Lý Thái Tổ) phải là cái đầu ròng mà thời đại ngày nay là cái đuôi rồng.. Cuộc diễu hành chỉ có duy nhất ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tạo cho người xem cảm giác chúng ta chỉ biết đến hiện tại mà không biết đến cha ông (mặc dù trước đó đã có làm lễ đốt lửa trước tượng đà vua Lý).

Thực ra thì không phải chỉ có thế, còn có những hình ảnh khác trong cuộc diễu hành có làm phát sinh phản cảm đối với nhân dân và bè bạn như việc đặt hình Hồ chủ tịch lên mặt trống đồng hay việc dùng máy bay trực thăng rước cờ diễu hành thì đảng kỳ đi trước rồi mới đến quốc kỳ. Tại sao không dùng một xe riêng để đặt hình Chủ tịch Hồ Chí Minh mà lại đặt trên mặt trống đồng. Ai cũng biết trống đồng là biểu trung của hồn thiêng dân tộc mà không ai có thể ngự lên trên đó cả. Hay tại sao không để máy bay rước quốc kỳ đi trước, máy bay rước đảng ký đi sau (chí ít cũng là song hành). Việc cờ đảng đi trước tạo ra cho người xem cảm giác người tổ chức đã đặt đảng lên trước tổ quốc. đó là điều mà chắc chắn số đông quần chúng nhân dân sẽ không đồng tình…

Ba thiếu sót kể trên của lễ hội ngàn năm Thăng Long Hà Nội nói lớn thì không lớn nhưng nói nhỏ thì cũng không nhỏ đâu. Vì nó sẽ tạo nên phản cảm cho mọi người, dù là trực tiếp dữ lễ hay qua hình ảnh trên tivi, mà phản ứng biểu hiện của người đàn ông ở quán cà phê hôm nọ chỉ là một…

Mình chỉ băn khoăn một điều: không hiểu ai là tổng đạo diễn của toàn bộ chương trình lễ hội mà đã để cho những thiếu sót không đáng có ấy xảy ra. Nó như những hạt sạn lớn trong một chén cơm, dù là đang đói bụng nhưng người ăn sẽ mất đi phần lớn cảm giác được hưởng thụ.

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010

ĐÊM HOA LỬA

Ba giờ chiều ngày hai mươi tám tết.

Ruột Thắng Lợi nóng như lửa đốt: Đây đã là ngày trinh sát cuối cùng, các anh ấy đang đợi ở nhà. Nếu cô và Thanh Hùng bị bắt hôm nay thì có thể cả một kế hoạch lớn bị gãy đổ. Mà cho dẫu kế hoạch chung vẫn tiến hành thì mũi do cô phụ trách sẽ mất người dẫn đường, vì bản thân cô là người đã trực tiếp phụ trách trinh sát khu vực tấn công của mũi này trong suốt gần tháng qua…

Từ đầu tháng mười một âm lịch, qua các đợt chỉnh huấn, chỉnh quân, mấy tay “quân sư quạt mo” trong các đơn vị nam đã xì xầm: “Cuối năm nay chắc đánh lớn đây”, thậm chí có tay còn cả gan tuyên bố: “Có thể năm nay sẽ giải quyết chiến trường miền Nam luôn…”. Đầu tháng Chạp, ban chỉ huy C710 (Bộ đội Thu Hà) được phổ biến sơ bộ chiến dịch Mậu Thân. Sau đó vài ngày, Thắng Lợi được gọi lên ban tham mưu Tỉnh đội, ở đây cô được gặp các anh Ba Đào, Tư Nguyễn, Mười Phục… Sau khi tham mưu báo cáo tình hình nhiệm vụ chiến dịch, ông Ba Đào trực tiếp giao nhiệm vụ cho cô:

- Nhiệm vụ của em trận này là sẽ dẫn một mũi do Tiểu đoàn ba đảm nhận đánh vào hậu cứ Trung đoàn mười thuộc Sư đoàn bảy ngụy. Vì thế công việc của em trong những ngày tới là trực tiếp trinh sát, vẽ cho được bản đồ khu hậu cứ và con đường mà đơn vị sẽ hành quân tiến đánh…

Sau những ngày trong vai một cô gái quê tần tảo với một gánh hàng bông, lang thang khắp cả khu vực từ cầu Bà Mụ lên tới hồ Trúc Giang qua sân vận động đến chợ Lạc Hồng để ghi nhớ mọi đường ngang ngõ tắt, cô đã vẽ xong bản đồ đường hành quân của đơn vị. Về báo cáo tình hình xong, cô xin ý kiến cấp trên cho tiếp cận khu hậu cứ… Giao liên công khai đưa Thắng lợi đến một cơ sở ở nội thị là nhà chị Châu gần bên hậu cứ. Chị Châu tiếp đãi cô rất thân tình. Chiều hôm đó chị Châu vào hậu cứ gọi người em cũng là cơ sở nội tuyến của ta là thiếu tá Chí về. Sau khi nghe Thắng Lợi trình bày kế hoạch, thiếu tá Chí vui vẻ nhận lời ngay. Đưa Thăng Lợi vào hậu cứ, Chí giới thiệu:

- Đây là nhỏ Phụng, em bạn gì tao ở Bình Khánh. Mấy lâu nay nhỏ bệnh quá, bà gì phải đưa nhỏ lên thị xã để chữa bệnh, nhân tiện tao đưa nhỏ vào đây chơi bồi dưỡng cho nhỏ ít ngày.

Với vai vế là em thiếu tá Chí, lại thêm thời kỳ này Thắng Lợi bị bệnh thương hàn vừa khỏi, người xanh lét vì thiếu máu (tuy vậy cô vẫn giữ được những nét đẹp tự nhiên của tuổi thanh xuân) nên không có bất cứ sự nghi ngờ từ phía địch. Những ngày ở trong hậu cứ, công việc của Thắng Lợi không gặp khó khăn gì lớn. Cô em gái thiếu tá Chí có thể tha thẩn khắp nơi, quan sát và ghi nhớ mọi ngóc ngách, đường đi nước bước khu hậu cứ. Cô làm quen với tụi lính, cười đùa vui vẻ với chúng và thu lượm từ chúng những tin tức cần thiết cho công việc của cô. Bọn lính đối với cô rất tử tế, đến nỗi có lúc cô hơi lấy làm lạ là tại sao tụi lính ở khu hậu cứ này lại khác xa những tên lính mà cô thường thấy mỗi khi chúng đi càn. Tụi này xem ra thật hiền lành thậm chí có thể nói là đàng hoàng nữa. Về sau thì cô hiểu ra: phần vì cô là em gái thiếu tá chớ bộ giỡn sao, phần nữa vì ở trong hậu cứ muốn tác oai tác quái với người khác cũng khó có điều kiện. Riêng mấy thằng thiếu úy, trung úy thì săn đón cô ra mặt. Có đứa còn nửa đùa nửa thật nói với thiếu tá Chí:

- Nếu được làm em rể thiếu tá thì vinh hạnh quá!...

Có điều lạ mấy đứa nhỏ trong khu gia binh cũng đều rất mến cô, có lẽ bởi tính cô vui vẻ xởi lởi, hay bồng ẵm chúng. Kể cả hai đứa con của thiếu tá Huệ (chỉ huy trưởng khu hậu cứ) cứ thấy cô là đòi ẵm đi chơi, có khi còn đòi đưa ra ngoài mua bánh kẹo. Đó cũng là những lợi thế lớn cho cô trong công việc.

Được một tuần, thấy công việc đã ổn cô nói với thiếu tá Chí để về. Lúc cô về thiếu tá Chí có làm cơm để tiễn “cô em gái” đàng hoàng…

Vậy mà bây giờ cô và Thanh Hùng lại phải ngồi ở đây, rõ thật là “chết sông chết biển không chết, lại chết ở vũng trâu đằm”. Sáng nay cô và Thanh Hùng được lệnh đi kiểm tra địa bàn lần cuối. Chừng hơn chín giờ công việc đã xong, cả hai dạo ra chợ bông đầu nhà lồng mua ít bánh trái đồ Tết cho có vẻ đi chợ về rồi vòng ra đằng sau nhà đèn đĩnh theo lối đó ra bến xe lam mà về Phước Thạnh. Bất ngờ tới ngã ba nhà đèn. Một chiếc Hon đa “sáu bảy” vọt từ trong hẻm ra tông vào Thanh Hùng. Cũng may người chạy xe máy đã kịp lạng tay lái đi một chút nên Thanh Hùng chỉ bị quẹt, xây xát thâm tím cả mặt mày và trẹo mắt cá chân. Phần đã tức vì bỗng dưng Thanh Hùng bị thương, lại thêm người thanh niên chạy xe ngang ngược đổ lỗi cho hai cô và lớn tiếng, Thắng Lợi cự lại thẳng tay (còn Thanh Hùng thì đang ngồi ôm chân nhăn nhó ở vệ đường), thế là cảnh sát giao thông đến. Tụi nó đưa hai cô và người thanh niên về bót cảnh sát (gần trung tâm điều tra của ty cảnh sát Kiền Hòa).

Điều lo lắng của Thắng Lợi lúc này là đáng lẽ sau khi xử xong vụ tai nạn giao thông (tụi nó buộc người đi xe máy phải bồi thương cho Thanh Hùng hai trăm tiền thuốc) hai cô đã được cho về ngay nhưng không hiểu chúng nghi ngờ điều gì mà giữ cả hai cô lại từ trưa tới giờ… Tụi nó đã nghi ngờ hay đây chỉ là sự gắt gao bình thương của những ngày áp tết? Từ lúc ấy tới giờ chúng đã nhiều lần hỏi vặn hai cô: Nhà ở đâu? Tên gì? Làm nghề gì? Làm gì vào thị xã?... Cả hai đứa đều trả lời: Là hai chị em ruột, nhà ở Phước Thạnh, trước ở trong ấp một nay vì sợ bom pháo nên đã làm nhà ra ngoài đồng. Cha chết, gần Tết phụ mẹ đi bán bánh còng kiếm thêm tiền, nhân thể ra chợ sắm đồ Tết… Hỏi tới hỏi lui chán tụi nó bỏ đi, để hai cô ngồi với nhau trong bót, tới trưa bụng đói meo phải lấy mấy cái bánh mua ở chợ ra ăn với nhau.

Mải suy nghĩ, Thắng lợi chợt giật mình vì có tiếng người hỏi lớn:

- Ủa chị Hai, sao chị lại ở đây, mà cả cô Tư nữa nè, hai chị em làm sao vào đây vậy?

- Thắng Lợi ngước nhìn thì thấy một tên cảnh sát lạ hoắc mặt mũi còn non choẹt, chừng hai mốt hai hai tuổi đang nhìn các cô với vẻ tươi cười. Cô hơi ngỡ ngàng chua kịp nói gì thì người cảnh sát đã nói tiếp:

- Em là Năm Tùng, em anh Ba Ngọc nè chị không nhớ sao?

“Không biết có phải là người của cơ sở không, nhưng thôi cũng đành liều…”. Đang nghĩ vậy, nhưng Thắng Lợi chưa kịp trả lời thì bỗng thấy Thanh Hùng đạp nhẹ dưới chân cô và nhanh nhảu:

- Ủa, anh Tùng hả? Anh đi cảnh sát từ bao giờ vậy, trông lạ hoắc à!..

Vừa kịp Thắng Lợi nhìn thấy một góc chiếc “mùi soa” trắng viền sọc tím thò ra trên túi áo ngực của anh ta. “… Trong trường hợp khó khăn, nếu gặp người nào nói trúng con số mười bốn và trên túi áo ngực có chiếc “mùi soa” trắng viền tím là người của cơ sở…”- Thắng Lợi chợt nhớ lời anh Ba Đào. “Nhỏ Thanh Hùng tinh mắt thật!”, cô nghĩ vậy và tiếp lời Thanh Hùng:

- Chị và con Tư đi bán bánh còng, tiện sắm Tết luôn, không may bị hon đa đụng nhằm, con Tư bị trẹo chân. Vụ xử xong rồi không hiểu sao mấy ổng không cho bọn chị về?...

Lúc này tên trung sĩ xếp bót đang ngồi trước mặt hai cô từ nãy tới giờ hỏi người cảnh sát:

- Hai cô này là người quen của mày à?

- Thưa xếp, hai cô này trước là hàng xóm nhà em, sau chuyển ra ngoài đồng vì sợ bom pháo. Chị hai Phụng đây còn là bạn của anh Ba em.

- Có thiệt không mầy?

- Dạ! Em đâu dám nói dối xếp. Nhà chị Hai và cô Tư đây có nghề làm bánh còng ngon nổi tiếng ở Phước Thạnh…

- Đ… mẹ! Mày tía lia à, từ sáng tới giờ mày đi đâu mà không thấy trong bót?

- Em đi công vụ dưới chốt cầu Cá Lóc mà, xếp không nhớ sao?

Thằng xếp bót hỏi hơi gằn giọng:

- Mày dám bảo lãnh cho hai cô này không?

- Dám mà, thưa xếp! Không gặp thì thôi chứ gặp trường hợp này mà em không bảo lãnh cho các cô, mai mốt về Phước thạnh người ta chửi chết…

Thằng xếp quay sang nói với hai chị em Thắng Lợi:

- Đã có thằng Tùng bảo lãnh tôi cho hai cô về!

… Lúc này mắt cá chân của Thanh Hùng đã sưng vù, cảnh sát Tùng phải cùng Thắng Lợi dìu cô ra ngoài rồi mướn xe lôi…

Gần tám giờ tối hai chị em mới về đến Phước Thạnh

*

* *

Phước Thạnh 6 giờ chiều ngày mồng hai Tết.

Không khí Tết vẫn còn rất đậm, đây đó tiếng pháo “tạch đùng, tạch đùng” vẫn vang lên khắp thôn ấp. Bàn thờ mỗi gia đình vẫn nghi ngút khói hương. Lẽ ra, theo lệ thường vào giờ này các nhà đã xúm xít đoàn tụ cùng nhau bên mâm cơm ngày Tết, những đám nhậu lai rai đang vào lúc vui vẻ rôm rả nhất… Nhưng hôm nay ở đây không khí lại nhộn nhịp cách khác: những chú bé cứ níu chân mấy chú bộ đội đòi đi theo, những bà mẹ vừa móm mém nhai trầu vừa vuốt ve những đứa con bộ đội sắp sửa ra đi, những cô gái mắt rân rấn nước cạnh những anh bộ đội mà những ngày ở lại nơi đây đã trở nên thân thiết với các cô, những anh lính trẻ đang nhận từ tay những người mẹ, người chị người em mình những món quà Tết nho nhỏ…

Hoàng Thọ nói với thắng lợi lúc này đang đứng tựa gốc dừa nhìn vào chỗ anh nuôi phát khẩu phần ăn đêm nay:

- Em vào lãnh phần bánh đi!...

- Em đã nhờ con Thanh Hùng lãnh giùm rồi.

Thắng Lợi nói dối, lúc này đừng nói gì tới chuyện ăn uống, cả đến chuyện nhấc tay động chân cô cũng còn không muốn: cô thấy mệt bã người, căn bệnh thương hàn từ mấy tháng trước tưởng đã dứt hẳn nay chừng như muốn trở lại. Chiều nay cô lại thấy ngây ngấy sốt, nếu là bình thườn chắc cô đã gục hẳn, nhưng nghĩ tới nhiệm vụ quan trọng đêm nay nên cô vẫn ráng gượng…

Bóng đêm đã nhập nhòa. Có tiếng hô bộ đội tập hợp. Những giọt nước mắt, những cái bắt tay thật chặt, những lời nhắn gửi cuối cùng… Rồi thì kẻ ở người đi chia thành hai khối: bộ đội với bòng bột, vải dù ngụy trang, súng ống… đứng thành hang ngũ chỉnh tề, những người đi tiễn lố nhố lao xao… Rồi bộ đội lên đường…

Thắng Lợi đi đầu hàng quân, cơn sốt hình như đã dứt nhưng cô vẫn còn mệt lắm, dầu vậy cô vẫn cố tỏ ra vững vàng. Có lẽ sự gắng gượng của cô không qua được mắt của chính trị viên Hai Thành, anh bước lại gần sát bên cô và hỏi nhỏ:

- Mệt lắm không em?

Lần này thì Thắng Lợi nói thật:

Dạ mệt, nhưng em còn gắng được.

- Ừ! Phải gắng nghe em, lúc này mà thiếu em là lỡ hết đó!

- Dạ, anh yên tâm đi.

Gần chín giờ đêm, bộ đội ra đến giữa đồng Hữu Định (phía trước là Phú Hưng) thì có lệnh dừng lại nghỉ. Rồi có lệnh cán bộ từ trung đội trở lên tập trung họp nhanh với Ban chỉ huy tiểu đoàn. Đến lúc này các cán bộ đại đội, trung đội mới chính thức được biết hướng xuất kích và nhiệm vụ của đơn vị họ trong đêm nay.

Vượt lộ đá đỏ ( nay là đường Nguyễn Thị Định) ngay sát ngã ba lộ Thầy Cai, đoàn người cứ lặng lẽ đi, chỉ có tiếng bước chân của họ vang lên khe khẽ trong đêm vắng. Gió chướng đêm đầu tháng giêng làm không khí trở nên se lạnh. Thắng lợi chợt rùng mình, hình như cơn sốt muốn trở lạ… “Mình không thể gục xuống lúc này được…” cô nghĩ bụng và gắng cắm cúi bước đi… Đến đoạn cầu Bà Mụ, bộ đội phải vượt qua phần ngọn của rạch Cá Lóc khá rộng. Một con đò lớn (có lẽ đã được cơ sở chuẩn bị từ trước) đang làm vật nối giữa hai mố của cây cầu đã bị ta đánh sập từ dạo nào. Chiếc đò không đủ dài, còn để lại một khoảng gần hai mét… Bộ đội được lệnh nhảy qua. Tiểu đội trinh sát đi trước, cả tiểu đội qua gọn nhưng Thắng lợ vẫn ngập ngừng không dám nhảy. khoảng cách này lúc bình thường nếu ráng sức cô vẫn có thể nhảy qua không khó khăn lắm, nhưng lúc này thì khác… Những chiến sĩ phía sau vẫn lần lượt vượt qua cô và nhảy sang bờ bên kia một cách gọn ghẽ. Một bóng người nữa lướt qua và một tiếng quát khẽ:

- Nhảy đi, còn chần chờ gì nữa…

Thắng lợi giật mình, nhưng cô chưa kịp phản ứng thì một bàn tay ai đã đẩy mạnh vào lưng cô và hô:

- Nhảy!...

“Ùm”! Do không được chuẩn bị trước, cái đẩy đã làm Thắng Lợi rơi tòm xuống nước, cũng may khoảng cách ngắn nên chỉ một sải tay là cô đã tới bờ. Ngay lúc ấy có mấy bàn tay cùng đưa ra cho cô nắm lấy. Không kịp nhìn, cũng không kịp cảm ơn người đã kéo mình lên, Thắng Lợi vội vàng chạy lúp xúp lên phía trước. Sát mé lộ nhựa, tiểu đội trinh sát đang khựng lại vì thấy thiếu Thắng Lợi. Cô tới vừa kịp nghe tiểu đội trưởng kêu lên:

- Chị Năm đâu, chị Năm đâu?

- Tôi đây!- Thắng lợi trả lời.

Nhìn cả người ướt sũng của cô, tiểu đội trưởng hỏi:

- Chị bị làm sao vậy, té xuống nước à?...

Thắng Lợi đáp:

- Không có gì đâu, bây giờ phải nhanh lên kẻo không kịp giờ G…

Và cô nhanh nhẹn bước lên đầu, cả đơn vị lại đi tiếp. Được một đỗi, Thắng lợi dẫn cả đoàn quân tạt vào một ngõ hẻm. Đoạn đường này những ngày trước Thắng Lợi đã trinh sát rất kỹ: từ con hẻm đang đi, vượt qua ba con đường ngang rồi tạt sang mé trái sẽ dẫn đến một con hẻm khác là ranh giới giữa một bên là sân vận động (cũng là bãi pháo của địch), một bên là nhà in Võ Văn Vân. Ra khỏi con đường chạy hơi chéo khoảng hơn năm mươi mét là đến hậu cứ Trung đoàn mười… hai bên hàng phố vẫn lặng lẽ, mọi người như vẫn đang chìm vào giấc ngủ dịu dàng của đêm xuân. Có lẽ không một ai trong số họ có thể ngờ rằng, chỉ chốc nữa đây thôi một điều kinh thiên động địa sẽ xảy ra trên đất này: giải phóng thị xã… Dưới chân Thắng Lợi, xác pháo ngày Tết vẫn còn vương vãi khắp nơi, những làn gió nhẹ thổi qua làm chúng lăn lăn tạo nên những âm thanh xào xạc trong đêm và vấn vít theo từng bước chân cô…

…Giờ G…

Cả đơn vị đã kịp áp sát mục tiêu. Thị xã Bến Tre bỗng bùng lên thành một đêm hoa lửa khổng lồ bởi ánh sáng của những làn đạn: đại bác, cối, DK75 của quân ta. Rồi pháo địch. Rồi đạn súng máy súng trường của cả hai bên…

Lúc này, theo kế hoạch, Thắng Lợi đã đưa được đại bộ phận các chiến sĩ ta tiến sát đến hậu cứ Trung đoàn mười, chỉ còn cách mặt lộ và một bức tường mà phía trên dày đặc dây kẽm gai. Công việc thứ nhất coi như đã hoàn thành. Cô quay người chạy với ý định là phải nhanh chóng đưa tiếp mũi thứ hai đánh chiếm đài phát thanh Kiến Hòa, nếu chiếm được ta sẽ lên đài kêu gọi binh sĩ địch đầu hàng. Được như vậy sẽ bớt đổ rất nhiều máu. Đang chạy Thắng Lợi chợt nghe đau nhói ở đầu gối như có ai vừa cầm chiếc búa lớn mà đập mạnh vào đó làm cô ngã lăn ra đường. Cô cố chống tay ngồi dậy nhưng không được, thì ra một làn đạn bất ngờ từ trong hậu cứ bắn ra cày nát mặt đường, một cục đá văng lên đã đập vào đầu gối cô, làm cô bị thương… Có ai đó bồng xốc Thắng Lợi lên. Người đó đặt cô vào phía trong hành lang một ngôi nhà rồi chạy vọt đi mà không kịp nói gì, có lẽ để theo kịp mũi của mình…. “Vậy là kế hoạch đánh chiếm đài phát thanh đã không thực hiện được!...”, Thắng Lợi nghĩ bụng. Lúc này cô cảm thấy cơ thể mệt rã rời. Người bèo nhèo. Cơn sốt vẫn hành hạ cô cộng thêm vào đó là sự nhức nhối của vết thương nơi đầu gối và sự vất vả của gần suốt đêm… cô chìm vào trạng thái nửa mê nửa tỉnh… Không biết đã mấy phút trôi qua. Chợt cô nghe có tiếng người lay gọi:

- Chị Năm, chị Năm! Chị tỉnh lại đi.

Thắng lợ mở mắt, nhận ra người tiểu đội trưởng trinh sát của đơn vị, cô định ngồi dây nhưng bị anh ấn nằm xuống:

- Chị cứ nằm yên đi, cho tui hỏi: thằng trung tá Huệ vừa bị bắt đã trốn thoát, anh em nhận định nó chưa ra khỏi hậu cứ, vậy theo chị nó có thể ẩn nấp ở đâu?

Hình ảnh toàn bộ khu hậu cứ lướt nhanh qua đầu Thắng Lợi: những dãy nhà lính, nhà kho, khu giải trí, nhà ở sĩ quan… đằng sau nhà trung tá Huệ có một kho chứa đồ phế liệu… có thể nó ở đó chăng?... Cô đáp liền.

Người tiểu đội trưởng trinh sát vừa nghe xong đã vọt nhanh đi, Thắng Lợi lại chìm vào trạng thái cũ…

Khi tỉnh lại Thắng lợi thấy mình đang ở dưới một :trảng xê” lộ thiên, ngay mé ngoài hành lang của một nhà dân đối diện với cổng khu hậu cứ. Trời đã rạng sáng, cô nhận ra Năm Vân (y tá đơn vị) đang băng bó vết thương nơi đầu gối cho mình. Thấy Thắng Lợ mở mắt, Năm Vân nói:

- Cô cố gắng chút đi, bị nứt xương bánh ché, đau lắm nhưng phải băng bó lại ngay, kẻo không sau này dễ thành tật…

Thắng Lợi hỏi:

- Trận đánh thế nào anh?

- Về cơ bản ta đã giải quyết xong, trung tá Huệ đã bị bắt lại rồi…

Tiếng súng trong hậu cứ có phần dịu đi nhưng trên khắp toàn bộ thị xã cuộc ciến hình như đang vào hồi quyết liệt.

- Xong rồi, cô cứ nằm yên ở đây nhé!

Thắng Lợi gượng ngồi dậy. Một ánh chớp lóe lên trên đầu họ, và cô không còn biết gì nữa…

Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2010

NƯỚC VIỆT NÀY LÀ CỦA AI ?


Lê Phú Khải
Sẽ có người phẫn nộ muốn mắng ngay vào mặt kẻ viết bài này khi đặt một vấn đề như thế! Nhưng xin quý vị hãy bình tĩnh để cho tôi “được mở mồm” (chữ dùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân chủ là để cho dân được mở mồm”).
Xin thưa: trong suốt chiều dài lịch sử, khi đất nước bị ngoại bang xâm lược, những kẻ cầm quyền đất nước đồng lòng với nhân dân đánh giặc giữ nước thì người Việt Nam là những thiên thần của lòng yêu nước. Lịch sử đã chứng minh điều này bằng những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ… Nước Việt chúng ta ở ngay bên cạnh kẻ xâm lăng thường trực 4000 năm, còn được đến hôm nay là nhờ xương máu của những người yêu nước đó.
Nhưng khi giặc xâm lăng đã cút rồi thì với chủ thuyết Khổng giáo, nước là của vua, yêu nước là phải trung với vua (trung quân ái quốc) – dân ta cứ hồn nhiên nhiễm phải tà giáo này suốt chiều dài lịch sử. Tất nhiên vua chúa thì minh quân rất hiếm, đa số là hôn quân bạo chúa, có ông vua là thằng bé con mồm còn hơi sữa, mẹ nó buông mành nhiếp chính đằng sau, làm bao điều hại nước hại dân, thế thì nhân dân đâu có thể yêu cái nước của vua ấy được. Nhân dân phải đi tìm một con đường yêu nước kiểu khác cho mình. Kẻ sĩ có liêm sỉ thì đi ở ẩn! Còn dân thì “quan có cần nhưng dân không vội, quan có vội quan lội quan sang!”.
Nhà nước với nhân dân hiện thân trong câu ca dao như thế nên nước yếu! Nước yếu thì giặc ngoại xâm lại tới! “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh”! Đó là lỗi tại vua chúa, vì chức năng của đàn bà là sinh con đẻ cái, không phải để đánh giặc! Giặc đã đến nhà rồi thì còn gì nữa, nó đốt phá giết chóc, cướp bóc tha hồ! Nếu nước mạnh thì phải đánh giặc khi nó mới lấp ló ở biên cương kia!
Đọc những câu ngạn ngữ như thế, chúng ta thấy thương người phụ nữ Việt Nam quá! Thấy đau cho dân tộc Việt Nam quá! Thấy bà mẹ Việt Nam trong lịch sử ngàn đời của đất nước vĩ đại quá, vừa làm lụng, vừa nuôi con và đánh giặc. Còn có phụ nữ nào trên trái đất này gian truân như các bà mẹ Việt Nam .
Trong dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, một vị tướng ở Hà Nội đã nói với người viết bài này rằng: Không phải chỉ có Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện… là anh hùng, mà tất cả các chiến sĩ Điện Biên Phủ đều là anh hùng, vì họ đã xung trận mà không tiếc xương máu!
Nhưng sau trận đánh “không tiếc xương máu” đó, là đấu tranh giai cấp, là cải cách ruộng đất, là cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, là đấu tố Nhân văn Giai phẩm… từ đó đất nước là của Đảng, của Chủ nghĩa Xã hội. Cái CNXH phải xếp hàng cả ngày ấy, bắt nhân dân “Yêu nước là yêu CNXH” thì nhân dân lảng tránh!
Ngày xưa vua chúa dạy dân “Trung quân ái quốc”. Vua ở trên nước. Nay khẩu hiệu của Cụ Hồ: “Quân đội ta trung với nước, hiếu với dân” người ta đổi là: “Trung với Đảng, hiếu với dân”, thì dân hiểu ngay nước bây giờ là của Đảng! Cơ quan công an còn trưng khẩu hiệu “Công an nhân dân chỉ biết còn Đảng còn mình” thì sự trắng trợn đã lên đến tột đỉnh! Đảng đã thành vua, dân là đầy tớ cho Đảng! Đất nước lại suy vi! Sau năm 1975, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi! Đất nước đứng bên bờ vực thẳm. Công cuộc đổi mới, mở cửa để Đảng tự cứu lấy mình đó, mở đầu bằng cải cách kinh tế. Đất nước như người bệnh được hồi sức. Nhưng kinh tế thị trường định hướng XHCN đã dẫn đất nước đến tình trạng tiền maphia. Đất nước không còn là của nhân dân nữa. Đất nước bây giờ là của các nhóm lợi ích, của Tập đoàn Than và Khoáng sản để dẫn người Tàu vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, của Tập đoàn Vinashin ném hàng núi tiền của dân xuống biển, của dự án đường sắt cao tốc toan bắt dân khoác lấy cả một hàng núi nợ nần… Trong lúc các bệnh viện hai, ba cháu thiếu nhi phải nằm một giường, các bà mẹ phải nằm dưới đất mà ông Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng khoa tay, lớn tiếng trên diễn đàn Quốc hội rằng: “Không thể không làm đường sắt cao tốc” thì nhân dân biết rõ, đất nước này không phải là của mình nữa rồi. Vì thế, mạnh ai người ấy sống, mọi chính sách của Nhà nước họ bỏ ngoài tai. Vì thế người người trốn thuế, nhà nhà trốn thuế. Đến nỗi nhà xã hội học Nguyễn Trần Bạt phải đau xót thốt lên rằng, trốn thuế là “sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam!”. Ở các nước văn minh, trốn thuế là một tội rất lớn, cầm chắc ra tòa và ngồi tù. Ở nước ta, lần đầu tiên có một người phải ra tòa vì tội trốn thuế là anh Điếu Cày! Khi xử anh, công an gác bốn bề, khiến nhiều người rất ngạc nhiên! Vì tội chính của anh là “tội” biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa! Vì tội chính của anh là “tội” yêu nước Việt Nam của mình! Lịch sử Việt Nam bây giờ lại có “tội danh yêu nước”!
Năm 2001, tôi có hỏi một thanh niên Pháp ở Paris rằng, vì sao một năm nay anh không về quê thăm bố mẹ? Anh ta trả lời rất tự tin: Tôi mải làm ăn, và tôi đóng thuế rất đầy đủ cho Chính phủ, như thế là tôi có hiếu với cha mẹ tôi, tôi đã làm đầy đủ bổn phận của một người con!
Ở các nước dân chủ, người ta biết rằng, tiền thuế của mình đóng cho nhà nước thì quỹ phúc lợi xã hội sẽ chăm sóc người già yếu bệnh tật, chăm sóc cho chính gia đình, cho bố mẹ họ, nên họ không trốn thuế. Ở các nước đó, đóng thuế là biểu hiện rõ rệt nhất của lòng yêu nước.
Vậy dân ta trốn thuế thì phải nghĩ thế nào đây? Ai làm nên nông nỗi này với một dân tộc đã chiến thắng ở Điện Biên Phủ mở đường cho các dân tộc nô lệ vùng lên, chấm dứt một thời đại các dân tộc nhược tiểu còn bị nô dịch ở cuối thế kỷ XX. Đau xót quá! Chính vì biết rõ đất nước không phải của mình nên nhân dân lao động lầm lũi đi tìm con đường sống cho mình ở khắp nơi, kể cả đi lấy chồng, đi làm ô-sin ở ngoại quốc. Chỉ vì biết đất nước không phải của mình nên một số người tìm cách luồn lách, tìm một chỗ yên thân, thậm chí đi định cư ở nước ngoài. Nhưng khi “mất nước trong lòng”, khi nền “độc lập chẳng còn ý nghĩa gì” (lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước độc lập mà dân không được tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì!”) thì hạnh phúc của người Việt Nam không bao giờ trọn vẹn, nếu không muốn nói là bi kịch truyền kiếp! Tôi có một anh bạn, có con định cư và nhập quốc tịch nước sở tại. Anh tâm sự với tôi: “Con tôi làm công cho một công ty nước ngoài, phải nhập quốc tịch nước đó để đi lại khắp nơi cho dễ, thế thôi. Chứ nó buồn lắm, và rất muốn về làm ăn tại quê nhà. Tôi cũng mong nó về lắm, và tôi chắc thế nào nó cũng đưa vợ con về nước.” Tôi có một ông bạn vong niên rất thân là nhà báo lão thành Trần Minh Tân ở báo Nhân dân. Ông quê ở Hải Dương, đậu Tú tài toàn phần trước 1945. Ông chỉ có một thằng con trai định cư ở Úc. Vì thế ông đã quyết định dọn cả bàn thờ tổ tiên sang Úc. Rồi vợ ông cũng sang Úc đoàn tụ, ông quyết chết ở bên đó. Nhưng rồi ông lại về nước sống một mình tại Hà Nội. Tôi đến thăm ông, tự tay ông lọ mọ nấu ăn. Lúc ngồi vào mâm cơm dọn ở đầu hè, ông vừa so đũa vừa kể: “Tao đã định chết ở bên đó. Nhưng một hôm tao đang ngồi trong vườn biệt thự của thằng con, bỗng dưng một đàn bồ câu ở đâu sà xuống sân kiếm ăn. Nhìn đàn chim kiếm ăn trong sân tao nhớ nhà quá, nhớ nước quá, thế là đành bỏ vợ con lại, về nước.” Hớp một hớp rượu, rồi mắt ông bỗng rưng rưng, tay vỗ xuống chiếu than với tôi: “Mình không phải là Cụ Hồ mà cũng yêu nước, nên mới khổ thế này!”. Tôi chưa bao giờ thấy ai than thân trách phận một cách xót xa mà lại humour đến thế! Cụ Hồ mà nghe được câu than này, chắc Cụ cũng ngậm cười nơi chín suối!
Ít lâu sau ông lại vô TP HCM thăm cô con gái đầu lòng, rồi đến chào từ biệt vợ chồng tôi để lại sang Úc với thằng con trai. Ông nói: “Vĩnh biệt vợ chồng cậu, mình đành gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người vậy thôi!”. Nói rồi ông già rưng rưng nước mắt.
Bẵng đi một thời gian tôi không có tin tức gì về ông. Tháng Tư vừa rồi, tôi đang ngủ gật trong phòng đợi tại sân bay Nội Bài để về TP HCM, bỗng có một bàn tay vỗ nhẹ vào bụng tôi. Mở mắt ra thì là anh Tạ Quang Ngọc, con trai cụ Tạ Quang Đạm ở báo Nhân dân. Cụ Đạm xưa kia là bạn thân với bác Minh Tân, cũng là bạn vong niên với tôi. Anh Ngọc kéo tôi vào phòng VIP uống trà rồi nói: “Đã biết tin ông Minh Tân mất chưa?”. Tôi sửng sốt: “Mất ở bên Úc à?!”. Anh Ngọc kể: Lúc lâm chung, cụ Tân nhất định đòi về chết tại Việt Nam. Cụ bảo con trai: “Ở bên này chúng nó đều nói tiếng Anh, tao chết xuống âm phủ không ai nói tiếng Việt với tao cả, buồn lắm, cho tao về quê chết, để còn được trò chuyện với bạn bè!”. Thằng con thương bố nên đã đem cụ về Việt Nam để chết! Nghe đến đây tôi bỗng nhớ đến câu chuyện trong lịch sử nước nhà. Lê Chiêu Thống là một tên vua bán nước, theo quân xâm lược chạy về bên Tàu. Nhưng trước lúc chết còn dặn gia nhân rằng, khi nào có điều kiện thì bốc hài cốt của ông về đất Việt. Riêng chi tiết này, người đời sau có thể ngậm ngùi cho ông vua lỡ bước!
Thì ra lòng yêu nước của thần dân nước Việt chúng ta nó nhiều cung bậc, nhiều gam màu đến như thế. Nó sâu thẳm vô bờ! Đất nước ta hiện nay lại đang đứng trước nạn ngoại xâm biển đảo, nạn thâm nhập đất liền, mà nhân dân lại thấy đất nước càng ngày càng không phải là của mình thì hiểm nguy cho dân tộc khôn lường!
Chỉ có con đường dân chủ hóa đất nước, nhân dân hiểu đất nước là của mình, tiền đóng thuế của dân không phải để rót vào con thuyền không bến Vinashin, không phải để làm đường sắt cao tốc cho ông Nguyễn Sinh Hùng và phe nhóm ông, không phải để mở rộng Thủ đô một cách vô lý và láo xược… thì nhân dân và nhà cầm quyền mới thành một khối, lòng yêu nước của nhân dân sẽ thăng hoa trở lại và không một kẻ thù nào có thể “đến nhà” chúng ta được. Người Việt chỉ biết có nước Việt Nam dân chủ cộng hòa của Cụ Hồ năm 1945. Cái XHCN làm cho dân xa nước, nước không phải của dân, nước của một chủ nghĩa đã bị nhân loại ruồng bỏ, ném vào sọt rác lịch sử thì bỏ hẳn nó đi, đừng gắn nó vào hai chữ Việt Nam thiêng liêng của dân tộc nữa, chỉ làm cho nhân dân thêm đau buồn và phẫn nộ, chỉ làm cho thế giới người ta cười cho. Đến nước Tàu cũng đâu có gắn XHCN vào tên nước. Nước người ta là Cộng hòa nhân dân Trung Hoa kia mà! Hồn thiêng sông núi bốn nghìn năm sẽ phù hộ cho dân tộc ta trên mỗi bước đường để vượt qua cơn hiểm nghèo này. Việt Nam dân chủ sẽ tồn tại và hùng cường! Tôi tin là tuyệt đại đa số nhân dân và đảng viên cộng sản Việt Nam đều khát vọng như thế. Đó là điều nhiều đêm tôi không ngủ để suy nghĩ về đất nước tươi đẹp và đau khổ của mình./.
TP HCM 9/2010
L.P.K.

Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2010

NGHỀ TAY TRÁI CỦA TÔI

Người xưa có câu: “Nhân sinh thập sự bất nghư ý cửu”. diều đó thật đúng. Tuy nhiên, đối với riêng tôi, có một sự trong chin sự bất như ý vào lúc đó thì đến bây giờ tôi lại thấy không biết có đúng là bất như ý hay không. Đó là việc tôi không bước hẳn vào con đường văn chương mà lại đi làm một thầy giáo dạy sinh học. Nỗi đam mê thời trẻ bây giờ trở thành một thú chơi, một thứ nghề tay trái.

… Tôi có ý định viết vào cuối những năm 60 (lúc đó tôi bước vào đầu tuổi hai mươi) khi đang học năm cuối phổ thông trung học. Nguyên nhân thì cũng giản đơn thôi: Đọc một số truyện ngắn và thơ trên tuần báo văn nghệ và sách báo phát hành ở miến Bắc lúc đó, tôi cho rằng nó quá tệ (?!). “Viết dở thế này thì mình cũng viết được. Không! Mình có thể viết hơn nhiều!”. Tôi nghĩ thế và cầm bút viết truyện ngắn đầu tiên vào năm một chin bảy mươi (1970), lúc dang học năm thứ nhất đại học nông nghiệp.

Tôi còn nhớ mang máng cốt truyện hình như nói về một người thương binh yêu cô giáo dạy cấp ba của minh và củng là người yêu cũ của người thủ trưởng đã hy sinh của chính anh ta… Ở trên tôi có nói đến việc tôi có ý định viết vào lúc tuổi chớm hai mươi. Sở dĩ tôi nói điều đó là để mong mọi người cảm thong cho tuổi trẻ dầy tham vọng và cũng không kém phần ngông cuồng, ảo tưởng. Lúc đó tôi chưa hiểu được rằng đánh giá và phê phán công việc của người khác với việc tự mình làm lấy những công việc đó là hai điều hoàn toàn khác nhau. Cầm bút nhưng tôi chưa có gì hết: chưa có một chút vốn sống thực tế nào, chưa biết chút gì về lý luận sang tác… Tôi chỉ có một mớ kiến thức hổ lốn về văn học của một cậu học trò trung học (dù là học trò giỏi), sống ở một xó rừng heo hút trong những ngày chiến tranh phá hoại ác liệt của giặc Mỹ. Vì thế tôi cứ viết rồi xé, xé rồi viết không biết bao nhiêu lần để cuối cùng thì giơ tay đầu hàng. Tôi đã tưởng mình đủ sức đoạn tuyệt với văn chương từ sau thất bại đó. Tôi không hiểu rằng tôi đã có được bài học đầu tiên về việc cầm bút: Muốn viết được không phãi chỉ có ước muốn và sự chủ quan khinh thị.

Tuy nhiên, với nghề văn hình như tôi không có duyên. Hết năm thứ nhất đại học tôi đi bộ đội. Suốt những năm ở quân đôi tôi cũng không viết được gì. Từ quân đội về, Cố xin vào tổng hợp văn không được, rồi vào sư phạm văn cũng không được nốt. Người ta nói tôi vốn ở đại học nông nghiệp, quen với cái cày, cây lúa thì về khoa sinh (đại học sư phạm) là hợp lý hơn. Tôi còn nhớ lúc đó tôi giận lắm, nhưng người ta nói không phải là không có lý, dù là cái lý của người ta (cái người ta đòi hỏi để chứng minh cho sự yêu thích hay khả năng về văn chương của tôi là những bài viết thì tôi lại không có. Đành chịu chớ sao bây giờ, thôi không văn học thì sinh học vậy. Bốn năm ở trường đại học tôi củng chẳng viết được chữ nào.

Không có duyên nhưng lại có nợ: Những rối rắm, những căng thẳng của xã hội vào những năm đầu sau chiến tranh cũng như những phức tạp của cuộc sống trong nhà trường tôi đang giảng dạy bức xúc tôi quá. Thế là một lần nữa tôi có ý định cầm bút trở lại và lần này thí có đỡ hơn.

Truyện ngắn đầu tiên tôi gửi cho “Văn nghệ Bến Tre” là “Thầy trò” (ngoài hai truyện có tính chất dọ dẫm gửi cho “Phụ nữ Gài Gòn là “Hẻm phố” và “Loan”) không ngờ lại đụng ngay với những nhà tư tưởng thời bao cấp. Chẳng là truyện ngắn của tôi kể về một trưởng phỏng giáo dục đi học cao đẳng sư phạm. Tuy nhiên do sức khỏe, do tuổi tác anh học kém. Người học trò cũ của anh bây giờ đã là cô giáo dạy cao đẳng đấu tranh tư tưởng xem nên cho thầy mình đủ điểm trung bình hay nên đánh rớt để thấy thi lại… Những người có quyền bắt bẻ nói rằng tại sao lại xây dựng một trưởng phòng kém cỏi trong học tâp như vậy? Có dụng ý gì không?... Hàn Vĩnh Nguyên lúc đó là biên tập văn của tờ báo đã phải vất vả nhiều về truyện ngắn này. Riêng tôi lúc đó, tôi còn nhớ, vừa tức giân vừa mừng. Giận thì rõ rồi, còn mừng là tôi đã khẳng định được một điều: tôi có thể viết và viết đúng.

Tôi viết không nhiều và rất chậm. kể từ truyện ngắn đầu tay đến nay tôi mới viết được vài chục truyện ngắn vả một số bài ký nhỏ. Đối với một người (dù là người viết nghiẹp dư) thế là quá ít. Nhưng biết làm sao được, khả năng tôi chỉ có thế. Tuy nhiên có một điều an ủi là hầu hết các truyện, bài tôi viết ra đều đứng được trên mặt báo. Những truyện, bài đó có lúc tôi đánh giá được cái hay cái dở của nó ngay, cũng có lúc phải nhờ thẩm định qua bạ bè. Chỉ có một điều tôi chắc chắn là tất cả những truện đó được viết ra vào lúc tôi băn khoăn trăn trở trước cuộc sống nhiều nhất, kể cả nỗi đau và niềm vui. Hay nói như cách nói của ngề tay phải của tôi thì chúng được viết ra trong hoàn cảnh có vấn đề. Nghề dạy học ngoài những cái hay khác còn có thêm cái hay nữa mà ít nghề nào có được: Mỗi lúc anh suy nghĩ chiêm nghiệm ra một điều gì đó về cuôc đời, cuộc sống thì anh có ngay những thính giả để cho anh phát ngôn những ý tưởng đó. Đừng xem nhẹ nó, nó có tác dụng giải tỏa những stress của con người ta lớn lắm, Tuy nhiên đối với người viết thì điều đó lại có mặt trái khác: Những ẩn ức, những dồn ép lên tâm lý con người khi đã được giải tỏa ra ngôn ngữ nói thì những bức thiết, những nhu cầu trình bày thành ngôn ngữ hình tượng văn học lại bị giảm đi. Lại nữa, thường thì tôi viết rất khổ. Để có được một truyện ngắn tôi cứ phải dàn dựng mãi trong đầu cho tới khi thật chín thật nhuyễn mới viết ra được. Có thể đó là nhửng nguyên nhân quan trọng khiến tôi viết chậm viết ít. Tuy nhiên nguyên nhân quan trọng nhất có lẽ vẫn là do khả năng của tôi có hạn. Quá nửa cuộc đời, tự biết về mình, tôi chẳng có ảo tưởng hay tham vọng gì lớn, bởi tôi đã biết rằng tôi chỉ có thế, chỉ đến thế. Vì thế tôi rất tâm đắc với nhà văn Trang Thế Hy khi ông nói: “ Với trữ lượng văn chương ít ỏi của mình tôi chỉ có thể đem ra chợ văn bán những thành phẩm nho nhỏ có tên là truyện ngắn”. tôi không có ý định so sánh mình với “ cụ Trang” (như nhóm bạn thân chúng tôi vẫn gọi đùa thân mật với nhau sau lưng nhà văn) mà thật sư nó có ý nghĩa khi tuổi đời của tôi đã qua ngưỡng “tri thiên mệnh” từ lâu lắm rồi.

*

* *

Nhiều khi tôi thầm cảm ơn nghề dạy học của tôi thật nhiều, dù là dạy sinh học (nghĩa là chẳng liên quan gì đền chuyện văn chương cả). Lý do để tôi cò thể cảm ơn thì rất nhiều nhưng cụ thể nhất và gần gũi nhất là những đồng tiền bát gạo mà nó làm ra để phục vụ cho nghề tay trái hay nói đúng hơn cho thú chơi, cho cái nợ văn chương của tôi. Bởi thới bây giờ trừ những nhà văn kiệt xuất và những cây bút ba xu ra thì văn chương chẳng nuôi nổi người cầm bút. Nếu không có nghề dạy học thì tôi đã phải “quỵt nợ” hoặc đã phải bán mình rồi. Cũng đã có lúc tôi muốn chuyển qua một nghề khác có lẽ là gần gũi với văn chương nhất để mong dùng tay trái đỡ đần ít nhiều cho tay phải: làm báo. Tuy nhiên khi đọc những bài viết của tôi, mấy thằng bạn chuyên làm báo cười lắc đầu: “Mày viết văn chẳng ra văn báo chẳng ra báo, mà viết cả tuần mới được mươi dòng thí làm báo sao được!”. Thế là thôi giã biệt ý định làm báo. Thay phải khốn khổ vẫn phải nuôi tay trái còm cõi như xưa.

Hơn hai mươi năm đi dạy, đến bây giờ tôi cảm thấy mắc nợ quá nhiều với nghề, với nghĩa tình anh em bè bạn đồng nghiệp trong trường cũng như cả với những nỗi đau mà người ta bắt tôi phải chịu đưng trong suốt hơn hai chục năm qua. Khi tinh vi xảo quyệt, lúc tho bạo tàn nhẫn nhưng nó phản ánh trung thực những biến động phức tạp của xã hội bên ngoài. Nỗi đau của tôi lớn đến nỗi nhiều khi tôi nghĩ viẹc tôi đang làm là gieo nghiệp ác, vì khốn khổ thay những điều tôi đang rao giảng tuy đúng với đạo lý ngàn đời nhưng cũng là công cụ của cái ác dùng để che đậy chính bản thân nó. Món nợ của tôi không phải đến hôm nay tôi mới có ý định trả, Tuy nhiên không hiểu sao đã nhiều lần cầm bút lên nhưng mãi đến hôm nay tôi vẫn chưa lám được. Ở trên tôi có nói “tự biết về mình tôi không có tham vọng gì lớn”. Đúng là không có tham vọng lớn, nhưng nhỏ thì vẫn có (có ai lại cả đời không có chút tham vọng nào). Đó là mong ước viết được cuốn tiểu thuyết duy nhất của đời mình để trả món nợ tinh thần này. Tôi cũng đã chuẩn bị được ít nhiều cho cuốn tiểu thuyết: “Ở một góc đời bị bỏ quên” náy: cốt chuyện, đề cương, tính cách một số nhân vật chính… Và cái quan trọng nhất là chất liệu, là vốn sống cho nó tôi cunmg4 đã gom được kha khá. Tuy nhiên cho đến lúc này, phần do áo cơm, phần nữa có thể do mặc cảm về khả năng của mình hay có thể còn đo một điều gì đó khác nữa nên tôi chư viết được bao nhiêu. Nhưng tôi sẽ cố gắng hoàn thành nó (dù trả nợ hay đòi nợ cũng cần làm ngay). Vả lại đây có thể đây cũng là dịp tay trái trả nợ áo cơm (theo đúng nghĩa đen của nó) cho tay phải nữa cơ mà. Nhưng… Ô! khó lắm thay…

Trong dân gian hầu như bất cứ bà mẹ nào cũng thuộc câu hát ru:

“Con mèo đập bể nối rang

Con chó chạy lại mà mang lấy đòn”

Riêng với mẹ tôi thì câu hát có hơi khác, nó gồm bốn câu:

“Con mèo đập bể nồi rang

Con chó chạy lại mà mang lấy dùi

Con chó là con chó đui

Đập phải một dùi nó sáng mắt ra”.

Rất lâu về sau tôi mới hiểu được mấy câu ca dao đó. Văn chương có lẽ cũng là chuyên ách giũa đàng quang vào cổ và khi đã mang ách vào cổ rồi thì mới thúc ngộ được nhiều điều cần thiết như con chó trong mấy câu hát ru của mẹ tôi chăng?

Thứ Năm, 1 tháng 4, 2010

Hiểu Đời

Chu Dung Cơ (Thủ tướng Trung Quốc)

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già.
Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.
Qua một ngày mất một ngày
Qua một ngày vui một ngày
Vui một ngày lãi một ngày
Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.
Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.
“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc,cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.
Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.
Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.
Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi.
Con tiêu tiền cha mẹ thoải mại; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ.
Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ.
Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.
Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.
Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.
Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy.
Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.
Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).
Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.
Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.
Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.
Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.
Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.
Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già.
Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên “vừa phải”.
Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống….)
Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh)
Người khôn phòng bệnh , chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống.
Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh…. Tất cả đều là muộn.
Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.
Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.
“Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.
Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành mạnh.
Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu sắc, có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.
Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.
Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già
Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.
Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn./..

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

Nhớ Bắc

Ai về Bắc ta theo với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ thưở mang gươm đi mở cõi
Trới Nam thương nhớ đất Thăng long
Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu sầu xa xứ
Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương
Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn nhớ, vẫn thương mùa vải đỏ
mỗi lần man mác hương sầu riêng
Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại ... Ôi đất bắc!
Muốn trở về quê, mơ cánh tiên.
Huỳnh Văn Nghệ

Thứ Tư, 17 tháng 2, 2010

Mẹ tôi chửi thề


Võ Đắc Danh

Mẹ tôi vốn nổi tiếng hiền lành, phúc hậu, ăn nói nhẹ nhàng, từ tốn, chưa bao giờ biết lớn tiếng hay nặng lời dù là với đàn gia súc gia cầm mất nết. Nhưng nay, tuổi 85, bỗng dưng bà chửi thề vì cảm thấy mình bị xúc phạm.Số là, gần Tết, bà nhận được thông báo ngày mai lãnh đạo tới thăm Mẹ Việt Nam Anh Hùng. Sáng, bà lui cui chuẩn bị trà nước để đón khách. Lại được thông báo: Lãnh đạo bận việc nên dời lại chiều mai, cho lãnh đạo xin lỗi. Ừ, lỗi phải gì, các con cuối năm tất bật mà, mẹ chẳng trách đâu. Hôm sau lãnh đạo tới, lễ phép kính thưa, thăm hỏi và trân trọng tặng Mẹ năm trăm ngàn xài Tết.Chuyện cũng bình thường như cái lẽ tất nhiên của lãnh đạo đối với bà trong mấy chục cái Tết đã qua, từ khi bà còn ở Cà Mau cho đến khi lên Sài Gòn. Nhưng cái khác thường của năm nay là khi bà đi lãnh tiền trợ cấp BMVNAH thì bị trừ năm trăm ngàn vì "lãnh đạo đã trao trực tiếp tận nhà rồi".Bà chửi thề một câu rồi nói: "Thì ra nó lấy tiền của tao để tặng tao".